Call Me: 08 6680 3496

PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ

HinhPhatAdiDa_

PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ

* * *

LỜI TỰA

Đức Phật Thích Ca vì một sự nhân duyên lớn mà ra đời. Ngài muốn chỉ cho tất cả chúng sanh thành Phật như ngài. Nhưng vì căn cơ  trình độ của chúng sanh trong buổi đầu tiên học đạo còn non kém. Nên ngài quyền biến lập ra ba thừa: Thinh Văn, Duyên Giác Và Bồ- tát. Đến lúc các vị Tỳ Kheo kham lãnh đạo Vô Thượng Bồ Đề, ngài bèn gom ba thừa quy theo vào Phật Thừa.

Đối với các pháp môn tu trì, hàng Nhị thừa phải trải qua mười kiếp A- tăng – Kỳ. Như vậy, vấn đề thành Phật, không pháp môn nào tu lẹ cho bằng pháp môn niệm Phật. Người  được vãng sanh không cần phải trải qua nhiều kiếp A- tăng – Kỳ, tại sao vậy? bởi vì chúng sanh ở nước cực lạc, do nguyện lực của đức Phật A-Di Đà, ai ai cũng có sáu phép thần thông. Chúng sanh tại đây dùng pháp thần thông, đi khắp mười phương Phật để cúng dường, nghe pháp, thành ra người nào cũng mau thành Phật. Hơn nữa, tại tây Phương Cực Lạc quốc, chúng sanh không cần phải bận tậm đến vấn đề ăn, mặc, ở, cái gì cũng do thần thông của Đức Phật A Di Đà hoá hiện. Muốn ăn gì tự nhiên đồ ăn hiện ra ở trong chén đĩa bằng thất bảo, sau khi ăn không cần dọn rửa, tự nhiên chén đĩa biến mất.

Sỡ dĩ chúng sanh tại Tây Phương mau thành Phật là vì muôn vật cần dùng không cần phải lo nghĩ, tâm trí rảnh rang, lại thêm được làm bạn với các vị Bồ -tát để tu học, do đó mà quả Phật chóng thành hơn các thế giới.

Theo các pháp môn, người hành trì phải dứt hết phiền não nhiễm ô, dứt hết nghiệp quả, tội chướng mới được giải thoát, chứng quả Niết-bàn. Trái lại pháp môn Niệm phật, còn nghiệp quả mà cũng được vãng sanh. Trong kinh Phật gọi là “Đới nghiệp vãng sanh”.

Đới nghiệp vãng sanh nghĩa là người tu hành còn mang nghiệp quả chưa dứt khoát trọn vẹn mà cũng được vãng sanh. Chẳng khác nào như hòn đá, tự lướt qua bể cả không được. Nếu có thuyền bè chở qua biển, dù bao nhiêu hòn đá cũng vượt khỏi bể khơi được như thường.

Cái hay của pháp môn niệm Phật là bất luận già trẻ, bé lớn, kẻ ngu, người trí gì cũng đều được cả. Bởi pháp môn niệm Phật rất dễ tu, dễ chứng, dễ thành. Nên người niệm Phật được vãng sanh, chỉ chứng quả một hai người mà thôi.

Pháp môn niệm Phật, sỡ dĩ mệnh danh là pháp môn tu tắt là vì pháp môn nầy mau thành công hơn các pháp môn khác. Đời mạt pháp, nếu chúng ta khônng tu pháp môn niệm Phật nào, thì không có pháp môn nào tu kịp Hội Long Hoa. Vậy chúng ta còn chần chừ gì nữa mà không mau mau tu theo pháp môn niệm Phật. Nếu bỏ lỡ dịp này, sợ e thân nầy sau khi tan rã, chừng đó có muốn tu hành cũng không còn dịp để  mà tu .

Sách Phật có nói: “Nhơn thân nan đắc, Phật pháp nan văn” Nghĩa là thân này khó được, đã gặp được thân này mà không lo liệu tu hành cho sớm, có phải uổng một kiếp sanh ra làm người.

20100216(n)

NGUYÊN NHÂN NÀO PHẬT GIẢNG PHÁP MÔN NIỆM PHẬT

Trong kinh Đại Bổn Di Đà có nói: một ngày kia nơi pháp toà, dung nhan của Đức Thế Tôn hiện ra nhan sắc một cách phi thường. A Nan là thị giả của Phật thấy vậy mới thưa rằng: “Bạch Đức Thế Tôn ! Đệ tử đã từng hầu Thế Tôn lâu năm, đệ tử chưa lần nào thấy dung nhan của Đức Thế Tôn lạ như ngày hôm nay, Chẳng biết nguyên nhân nào sắc mặt của Đức Thế Tôn hiện ra như vậy? Xin Đức Thế Tôn vì chúng đệ tử mà khai thị để hiểu rõ lý do.

Nầy A Nan ! hay thay! Quý hoá lời hỏi của ngươi. Dù cho có người nào đó đem hết năng lực ra cúng dường tất cả các bậc Thinh Văn, Duyên Giác trong một cõi thiên hạ và bố thí cho hết thảy cõi Trời, cõi người cùng các loài bò bay máy cựa, trải đến kiếp nọ sang kiếp kia, cũng không thể bì kịp công đức câu hỏi của ngươi, sấp đến trăm ngàn vạn ức phần. Bởi vì do câu hỏi của ngươi, tất cả Chư Thiên và Vua Chúa trong nhân gian cho đến ngững loài bò bay máy cựa, cũng nhờ câu hỏi của ngươi mà được độ cho thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử khổ hải.

Nầy A Nan ! ta có một pháp môn  tu tắt khó nói ra quá, bởi vì pháp môn này đòi hỏi người nghe phải có đức tin một cách quả quyết mới có thể tu trì được. Trái lại, nếu thiếu đức tin, lòng còn do dự thì khó mà thành công đối với pháp môn nầy.

Trên đây là lý do khởi nguyên Đức Thế Tôn giảng nói pháp môn niệm Phật. Thực vậy, dù là Pháp môn nào đi nữa cũng phải đòi hỏi Hành giả phải có đức tin thật kiên cố mới mong thành công.

Theo lời Đức Thế Tôn nói với A Nan thì pháp môn nầy có thể độ được loài côn trùng nữa. Nhưng vì chúng ta là thai phàm mắt thịt, không thấy được loài côn trùng được độ bằng cách nào. Riêng đối với loài chim, loài sấu, ai có xem sự tích vãng sanh đều thấy rõ.

Loài sấu khi tu hành chúng không còn lội đi chỗ này chỗ nọ để săn thịt mà sống. Chúng nó trầm sâu dưới đáy sông, nhiều khi chỗ đó thành cồn thành bãi mà chúng vẫn kiên trì nằm mãi một chỗ.

Còn như loài chim nhờ chủ nhà dạy cho niệm phật, chúng nhái theo, đến khi chết chủ đem chôn, một ít sâu chỗ chôn xác mọc lên một đóa sen từ trong mỏ con chim mọc ra, chủ nhà biết rằng con chim đã được vãng sanh Tịnh Độ.

Hoa sen tượng trưng cho pháp môn Niệm Phật, người vãng sanh được hoá thân trong Liên Hoa. Vì vậy, Tịnh Độ Tông cũng gọi là Liên Hoa Tông. Hoa Sen là biểu hiện của pháp môn Niệm phật vì đó mà chủ nhà quyết đoán rằng: Con Chim của ông ta nuôi được vãng sanh Tịnh Độ.

Nhiều sự tích vãng sanh rất ly kỳ, xin xem phía sau sẽ thấy. Nhứt là các sự tích vãng sanh, trong đó có kể sự tích đời nay để làm bằng cớ, chẳng phải hoàn toàn kể chuyện đời xưa, nên không có gì là khó tin.

amituofo120dpi

SỰ TÍCH ĐỨC PHẬT A-DI-ĐÀ

Kinh Đại Bổn Di-Đà nói: Không biết bao nhiêu kiếp trước có ông Phật ban sơ ra đời là Thế-Tự-Tại-Vương-Phật, đi dạy độ người hướng Tây nhằm nước Đại Quốc cũng đến nghe giảng Tịnh Độ ngộ đạo. Vua giao ngôi cho đông cung cai trị, theo thầy mà tu hành. Thầy đặc pháp danh là Pháp-Tạng Bạch. Vị ấy nguyện bốn mươi tám tiêu độ tận chúng sanh mà đền ơn thầy. Ngày tu hành tấn tới thành bậc Bồ-tát.

Trong thời kỳ tu luyện, ngài làm phước thông hiểu hết mọi việc thế gian. Ngài nhập vô thai theo các loài người loài vật, độ chúng nó tu luyện cho thành mà rước hồn về Tây Phương nên trên từ Thiên Đế, Tiên, Thánh, Thần, người tới dưới muôn vật, đều độ siêu về Tây Phương cho trọn lời nguyện cao cả.

Tuy đã thành Phật mà vẫn giữ hạnh Bồ-tát, chẳng hưởng thanh nhàn, không này cực khổ, trải qua mười triệu kiếp, nhập thai độ đủ các loài người và vật các nước khác, đem hồn về Tây-Phương, nhập vô bông sen (liên-hoa hoá thân như Na-Tra)

 Chúng sanh tại nước cực lạc không đầu thai nữa và cũng không chết mà cấp dưỡng vì biến hoá y-phục phẩm thực mà bảo dưỡng, làm âm nhạc nghe cho vui, hoá cung đền, đồ cần dùng thượng hạng cho người ở nước mình vừa ý, vui lòng mà tu luyện cho lên chức Phật. Phụ nữ cũng tu hành cho Liên Hoa hoá-thân làm trai. Từ ấy đặc tên là nước Cực Lạc nghĩa là rất vui. Sau rước nhiều hồn người và vật tu thành đem về Cực-Lạc mà nuôi nên xưng một hiệu nữa là nước An-Dưỡng (nghĩa là nuôi cho an lòng). đủ lời nguyện bốn mươi tám điều, ngài mới thành Phật.

Ở cõi cực lạc cứ lo chúng sanh niệm danh hiệu mình mà tu theo pháp, thời lâm chung đi tiếp dẫn về Cực lạc cho Liên Hoa hoá thân, nuôi dạy tu luyện tham thiền cho thành Phật. Vì tiếp rước chơn linh người tu nên ngài còn được gọi là tiếp dẫn đạo sư.

Tại sao ngài xưng danh hiệu A Di Đà? Kinh Đại Bổn và Tiểu Bổn giải: Bởi vì hào quang Phật chiếu khắp mười phương, sống lâu không biết ngần nào. Người trong nước cũng vậy và phước đức lớn nên xưng hiệu A-Di-Đà.

A là sống lâu, Di là sáng loà, Đà là phước đức. Ngụ ý là  Phật bất tử hào quang sáng loà, phước đức trên bực.

Looking up at Buddha - Note reversed Swastika on chest??? - HK

TỨ THẬP BÁT NGUYỆN

(48 ĐIỀU NGUYỆN CỦA ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ)

Điều nguyện thứ 1: Nếu tôi được làm Phật mà trời, người trong nước tôi còn có địa ngục, ngạ quỉ, súc-sanh, xin chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác .

Điều nguyện thứ 2: Nếu tôi được làm Phật mà trời, người trong nước tôi sắc chẳng hệt như màu vàng y, xin chẳng giữ lấy ngôi Chánh-Giác.

Điều nguyện thứ 3: Nếu tôi được làm Phật mà trời, người trong nước tôi chẳng đồng, còn có người đẹp, kẻ xấu xin chẳng giữ ngôi Chánh-Giác.

Điều nguyện thứ 4: Nếu tôi được làm Phật, mà trời người trong nước tôi chẳng biết Túc-Mạng, trở xuống chẳng biết trăm ngàn ức Na-do-tha việc các kiếp, xin chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

Điều nguyện ước thứ 5: Nếu tôi được làm Phật, mà Trời, người trong nước tôi chẳng được Thiên-Nhãn trở xuống chẳng ngó thấy trăm ngàn ức Na-do-tha các cõi Phật, xin chẵng giữ ngôi Chánh Giác .

Điều nguyện thứ 6: Nếu tôi được làm Phật mà trời, người trong nước tôi chẳng được thiên nhĩ trở xuống, nghe tiếng trăm ngàn ức Na-do-tha chư Phật thuyết-Pháp mà chẳng thọ trì. Xin chẳng giữ lấy ngôi Chánh-Giác.

Điều nguyện thứ 7: Nếu tôi được làm Phật, mà Trời, người trong nước tôi chẳng được Tha-tâm-trí, trở xuống chẳng biết trăm ngàn ức Na-do-tha tâm-niệm của chúng sanh trong các cõi Phật, xin chẳng giữ lấy ngôi chánh giác .

Điều nguyện thứ 8: Nếu tôi được làm Phật mà Trời, người trong nước tôi chẳng được thần-túc, ở trong một niệm trở xuống chẳng vượt qua trăm ngàn ức Na-do-tha các nước Phật, xin chẳng giữ lấy ngôi Chánh-Giác.

Điều nguyện thứ 9: Nếu tôi được làm Phật, mà trời, người trong nước tôi còn khởi tượng niệm tham, tính chuyện riêng thân mình ,xin chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác .

Điều nguyện thứ 10: Nếu tôi được làm Phật, mà trời, người trong nước tôi chẳng trụ vào nơi định tu rồi diệt-độ, xin chẳng giữ lấy ngôi Chánh-Giác.

Điều nguyện thứ 11: Nếu tôi được làm Phật, mà quang minh có hạn lượng trở xuống tới ngàn ức Na do tha kiếp, xin chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

Điều nguyện thứ 12: Nếu tôi được làm Phật, mà thọ mạng có hạn lượng trở xuống, tới trăm ngàn ức Na do tha kiếp, xin chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

Điều nguyện thứ 13: Nếu tôi được làm Phật, mà bậc Thinh văn trong nước tôi có thể đếm được, chúng sanh trong Tam thiên đại thiên thế giới đều thành Phật Duyên Giác, ở trăm ngàn kiếp tính đếm cộng lại biết được số (Thinh văn) đó, xin chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

Điều nguyện thứ 14: Nếu tôi được làm Phật, thì thọ mạng của trời, Người trong nước tôi không hạn lượng được, trừ ra bổn nguyện của họ dài, vẫn được tự tại. Nếu chẳng được vậy xin chẳng giữ ngôi Chánh Giác.

Điều nguyện thứ 15: Nếu tôi được làm Phật mà trời, người trong nước tôi nghe có tiếng chẳng lành xin chẳng giữ ngôi Chánh Giác.

Điều nguyện thứ 16: Nếu tôi được làm Phật, mà vô lượng chư Phật ở mười phương thế giới chẳng đều nức nở xưng danh hiệu của tôi, xin chẳng giữ ngôi Chánh Giác.

Điều nguyện thứ 17: Nếu tôi được làm Phật, chúng sanh trong mười phương chí tâm tín lạc muốn sanh về nước tôi, cho đến mười niệm mà chẳng vãng sanh thì chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác. Chỉ trừ ra kẻ phạm năm tội nghịch, gièm chê nước tôi, cho đến mười niệm mà chẳng vãng sanh thì chẳng giữ ngôi Chánh Giác.

Điều nguyện thứ 18: Nếu tôi được làm Phật, chúng sanh mười phương thế giới, tuy phạm lỡ các tội nói trên đó với các điều dữ khác. Nay nghe danh hiệu tôi, chịu cải ác tùng thiện, chọn ngày sám hối ăn năn và lập nguyện, từ nay về sau, sửa tánh làm lành, không phạm mười điều giữ, đến lâm chung niệm danh hiệu tôi mười lần, mà chẳng vãng sanh thì xin chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác

Điều nguyện thứ 19: Nếu tôi được làm Phật, chúng sanh mười phương phát tâm bồ đề, tu các công đức, chí tâm phát nguyện muốn sanh về nước tôi, tới lúc thọ chung, như tôi chẳng cùng đại chúng quanh đây hiện ra trước người ấy, xin chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

Điều nguyện thứ 20: Nếu tôi được làm Phật chúng sanh trong mười phương, nghe danh hiệu tôi, đem lòng tưởng niệm đến nước tôi, trồng các cội đức, chí tâm hồi hướng, muốn sanh về nước tôi, xin chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

Điều nguyện thứ 21: Nếu tôi được làm Phật mà Trời, Người trong nước tôi chẳng đều viên mãn 32 tướng của bậc Đại nhơn, xin chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

Điều nguyện thứ 22: Nếu tôi được làm Phật các chúng Bồ- tát ở các cõi Phật, các phương khác sanh lại nước tôi, nhứt sanh bổ xứ. Trừ bổn nguyện của mình, tự tại hoá ra. Vì cớ chúng sanh bi thệ nguyện rộng lớn kiên cố như áo giáp sắt, chứa chan cội đức, độ thoát hết thảy, du hành đến các cõi Phật. Tu hạnh Bồ- tát, cúng dường chư Phật Như lai mười phương, khai hoá vô lượng chúng sanh đông như số cát Sông Hằng, lập nên đạo Chánh chơn, trội hơn địa vị của hạnh tầm thường. Hiện ra mà tu tập đức Phổ hiền. Nếu được vậy xin chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác

Điều nguyện thứ 23: Nếu tôi được làm Phật thì Bồ- tát trong nước nương vào thần lực của Phật, muốn cúng dường chư Phật trong một bữa ăn, chẳng khắp tới được vô lượng ức Na do tha các cõi Phật đó, xin chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác

Điều nguyện thứ 24: Nếu tôi được làm Phật thì Bồ- tát trong nước ở trước chư Phật hiện ta cội đức của mình. Những đồ ta cúng dường, nếu chẳng như ý đó, xin chẳng giữ lấy ngôi chánh giác

Điều nguyện thứ 25: Nếu tôi được làm Phật mà Bồ- tát trong nước chẳng diễn thuyết được hết thảy mọi trí xin chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

Điều nguyện thứ 26: Nếu tôi được làm Phật mà Bồ- tát trong nước chẳng đặng thân Kim Cang Na La Diên, xin chẳng giữ lấy ngôi Chánh giác.

Điều nguyện thứ 27: Nếu tôi được làm Phật thì Trời, Người trong nước, hết thảy muôn vật đều nghiêm tịnh sáng đẹo, hình sắc khác, rất mực tinh diệu, không thể cân lường cho xiết được. Từ các chúng sanh cho đến các bậc chí thiên nhãn. Nếu ai biện được tên và số cho rành rẽ đó,  xin chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

Điều nguyện thứ 28: Nếu tôi được làm Phật mà Bồ- tát trong nước cho chí kẻ ít công đức, chẳng thấy biết được vẻ sáng chiếu vô lượng của cây Đạo tràng cao bốn trăm muôn dặm xin chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

Điều nguyện thứ 29: Nếu tôi được làm Phật mà Bồ- tát trong nước nếu ai thọ trì đọc kinh Pháp, phúng tụng, trì thuyết, mà chẳng biện tài trí hụê, xin chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

Điều nguyện thứ 30: Nếu tôi được làm Phật mà trí hụê  biện tài của Bồ-tát trong nước còn có thể hạn lượng được, xin chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

Điều nguyện thứ 31: Nếu tôi được làm Phật thì cõi nước thanh tịnh đều chiếu thấy tất cả vô lượng vô số thế giới chư Phật, mười phương chẳng thể suy nghĩ bàn. Giống như tấm gương sáng soi thấy bộ mặt, nếu không như vậy, xin chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

Điều nguyện thứ 32: Nếu tôi được làm Phật từ dưới đất trở lên tới chốn hư không, cung điện, ao hồ, hoa, cây, …..hết thảy muôn vật ở trong nước đều dùng vô lượng của báu góp lại và trăm ngàn các thứ hương mà cộng nghiệp thành ra sửa soạn cho thật lạ lùng mầu nhiệm. Hơn hết, các cõi trời và cõi người, mùi hương các vật ấy huân khắp thế giới mười phương. Hễ chư Bồ- tát ngửi mùi đều tu hành Phật hạnh. Nếu chẳng như vậy, xin chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

 Điều nguyện thứ 33: Nếu tôi được làm Phật thì vô lượng các loại chúng sanh trong thế giới chư Phật mười phương chẳng thể nghĩ bàn, đều nhờ ánh quang minh của tôi chạm vô mình của họ, thân tâm trở nên nhu nhuyễn trổi hơn trời và người. Nếu chẳng như vậy, xin chẳng giữ lấy ngôi chánh giác

Điều nguyện thứ 34: Nếu tôi được làm Phật mà các loại chúng sanh trong thế giới chư Phật mười Phương vô lượng chẳng thể suy nghĩ bàn bạc, đều nghe danh tự của tôi, nếu chẳng đặng Vô sanh Pháp Nhãn và của Pháp Tổng Trì sâu thẳm của bậc Bố-tát đó, xin chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

Điều nguyện thứ 35: Nếu tôi được làm Phật thì chư Phật thế giới, chư Phật mười phương chẳng có thể suy nghĩ, bàn bạc, trong đó. Hễ có phái nữ nào nghe danh hiệu của tôi mà hoan hỷ tin vui, phát tâm bồ đề, chán ghét nữ thân. Sau khi qua đời,  còn phải mang thân gái nữa, xin chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

Điều nguyện thứ 36: Nếu tôi được làm Phật thì vô lượng các chúng Bồ- tát trong thế giới chư Phật mười phương chẳng thể nghĩ suy nghĩ, nghị bàn, hễ nghe danh hiệu của tôi, sau khi qua đời thường tu hạnh phạm hạnh cho tới khi thành Phật đạo. Nếu chẳng như vậy xin chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

Điều nguyện thứ 37: Nếu tôi được làm Phật, thì vô lượng Chư Thiên, nhân dân các cõi chư phật mười phương chẳng có thẻ suy nghĩ bàn bạc, hễ nghe danh tự của tôi thì năm thể : đầu và hai tay, hai gối gieo xuống đất, đập đầu làm lễ, hoan hỷ, tin vui, tu hạnh Bồ -tát, trời người không ai chẳng đem lòng kính. Nếu chẳng như vậy, xin chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

Điều nguyện thứ 38: Nếu tôi được làm Phật thì Trời, người trong nước muốn được đồ y phục, ý vừa dứt thì đồ hiện tới, y như đồ mặc tự nhiên mầu nhiệm ứng pháp, mà đức Phật khen, tự nhiên ở nơi mình. Nếu ai còn phải cầu lấy sự may vá, nhuộm, giặt, xin chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

Điều nguyện thứ 39: Nếu tôi được làm Phật mà sự khoái lạc của Trời, Người trong nước, thọ hưởng chẳng bậc Tỳ kheo lậu tận đó, xin giữ lấy ngôi Chánh Giác.

Điều nguyện thứ 40: Nếu tôi được làm Phật thì Bồ- tát trong nước, tuỳ ý muốn thấy vô lượng cõi Phật mười phương nghiêm tịnh, tức thì như nguyện, từ trong cây báu chiếu thấy đủ hết, dường như tấm gương sáng ngó thấy bộ mặt. Nếu chẳng như vậy, xin chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

Điều nguyện thứ 41: Nếu tôi được làm Phật thì chư Bồ- tát chúng trong các cõi mười phương khác nghe danh hiệu của tôi, cho tới khi được làm Phật mà các căn còn thiếu thốn, chẳng đầy đủ xin giữ lấy ngôi chánh giác.

Điều nguyện thứ 42: Nếu tôi được làm Phật thì chư Bồ- tát chúng trong các cõi mười phương khác nghe danh hiệu của tôi đều tiến kịp được cảnh giới Tam muội “ Thanh tịnh giải thoát” hết cả. Trụ ở cảnh tam muội ấy trong một khoảnh vứa phát ra ý tưởng , thì cúng dường vô lượng, chẳng có thể suy nghĩ bàn bạc số chư Phật thế tôn. Thế mà chẳng lạc mất ý định. Nếu chẳng như vậy, xin chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

Điều nguyện thứ 43: Nếu tôi được làm Phật thì chư Bồ- tát chúng trong các cõi mười phương khác nghe danh hiệu của tôi, sau khi qua đời, sanh vào nhà tôn quý. Nếu không như vậy, xin chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

Điều nguyện thứ 44: Nếu tôi được làm Phật thì chư Bồ- tát chúng trong các cõi mười phương khác nghe danh hiệu của tôi, vui mừng hớn hở, tu hạnh Bồ- tát trọn đủ cội đức, nếu chẳng như vậy, xin chẳng giữ lấy ngôi chánh giác.

Điều nguyện thứ 45: Nếu tôi được làm Phật thì chư Bồ- tát chúng trong các cõi mười phương khác nghe danh hiệu của tôi đều kịp tới cảnh phổ đẳng Tam Muội, trụ ở cảnh Tam Muội ấy cho tới khi thành Phật, thường thấy hết thảy vô lượng chư Phật có thể suy nhĩ bàn bạc. Nếu chẳng như vậy, xin chẳng giữ lấy ngôi chánh giác.

Điều nguyện thứ 46: Nếu tôi được làm Phật thì chư Bồ- tát chúng trong nước tuỳ theo chí nguyện của mình, hễ muốn nghe pháp tự nhiên được nghe. Nếu chẳng như vậy, xin chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

Điều nguyện thứ 47: Nếu tôi được làm Phật thì chư Bồ- tát chúng trong các cõi mười phương khác nghe danh tự của tôi, mà chẳng được đều bất thối chuyển tức thì, xin chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

Điều nguyện thứ 48: Nếu tôi được làm Phật thì chư Bồ-tát chúng trong các cõi mười phương khác nghe danh tự của tôi mà chẳng tới được liền đạt pháp nhẫn thứ nhất, thứ nhì, thứ ba, đối với pháp của chư phật, liền được nơi bất thối chuyển, xin chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

Amitabha_02

Đức Phật Thích ca nói: Khi ngài pháp Tạng thệ nguyện bốn mươi tám điều vừa dứt, thì quả đất bỗng dưng chấn động, rung chuyển. Cả không gian nghe được tiếng nói từ trên mây rằng: chắc chắn sẽ thành Phật.

Sưu tầm

Leave a Reply

Hỗ Trợ Trực Tuyến


Tư vấn
Cô Dung - 0909 925 969
Talk with me via Skype
Ngọc Anh - 0933 25 11 90
Talk with me via Skype
Hoàng Minh - 01234 925 969
Talk with me via Skype
Thiết kế bản vẽ
Lê Tâm - 091 686 1161

Địa Chỉ Liên Hệ

Công Ty Cổ Phần Văn Hóa Phúc Lạc An
73/4/5 Ni Sư Huỳnh Liên, P.10, Q.Tân Bình, HCM
Điện Thoại: 08 6680 3496

Thống kê